Giáo dục chuyển mình cùng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021–2025 đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Trong đó, hai nội dung trọng tâm là cải thiện cơ sở vật chất trường học và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Một trong những mục tiêu trọng tâm của chương trình là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất giáo dục ở các cấp, bảo đảm các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Ngành giáo dục đã đạt được bước tiến lớn trong việc nâng cấp cơ sở vật chất trường học. Tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng đáng kể trên cả nước, đặc biệt ở các khu vực khó khăn. Sự gia tăng tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia phản ánh nỗ lực đồng bộ của các cấp chính quyền và sự tham gia tích cực của cộng đồng, góp phần thực hiện hiệu quả chương trình giáo dục.
Theo báo cáo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Tổng kết các nội dung về giáo dục và đào tạo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 (diễn ra tháng 9/2025), đến thời điểm tháng 7 năm 2025, cả nước có 87,5% số xã đạt chuẩn tiêu chí trường học (mục tiêu 90%), số lượng trường học đạt chuẩn cơ sở vật chất ở các cấp học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở ngày càng tăng.
(1).jpg)
Trước thời điểm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, có 87,5% số xã trên cả nước đã đạt chuẩn tiêu chí số 5 về trường học theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới. Tuy chưa đạt mục tiêu của cả giai đoạn, song đây là bước tiến quan trọng thể hiện sự ưu tiên của các địa phương trong đầu tư cơ sở hạ tầng giáo dục, đồng thời là cơ sở vững chắc để các địa phương tiếp tục phấn đấu hoàn thành các tiêu chí về giáo giục trong giai đoạn tiếp theo.
Song song với việc đầu tư hạ tầng, các nội dung, tiêu chí Giáo dục và Đào tạo trong Chương trình đã được triển khai hiệu quả, ghi nhận nhiều thành tựu đáng kể trong việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cơ bản, nâng cao tỉ lệ phổ cập giáo dục và xóa mù chữ trên toàn quốc. Các chỉ số liên quan đến phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và tiếp tục học tập đạt mức cao, đặc biệt tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, từ đồng bằng đến miền núi. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức cần giải quyết để đảm bảo chất lượng giáo dục đồng đều trên cả nước.
Các địa phương đã chú trọng thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở. Đồng thời, duy trì chất lượng xóa mù chữ mức độ 1 và mở rộng tỉ lệ biết chữ mức độ 2 cho người dân trong độ tuổi lao động. Nhờ đó đã giúp tỉ lệ phổ cập giáo dục, tỉ lệ biết chữ trong các nhóm tuổi từ 15 đến 35 và 15 đến 60 tuổi được cải thiện tích cực. Tính tới thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, có 99,9% xã đạt chuẩn mầm non cho trẻ 5 tuổi; tỉ lệ người 15 - 60 tuổi biết chữ đạt trên 97%; 55/63 tỉnh đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Nhờ sự nỗ lực của các cấp, các ngành, 95,6% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 14 về giáo dục và đào tạo trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới - vượt chỉ tiêu của giai đoạn 2021 - 2025.
Công tác phổ cập giáo dục đã đạt được những kết quả ấn tượng, đặc biệt ở các cấp mầm non; tiểu học và trung học cơ sở; các địa phương đã làm tốt công tác điều tra phổ cập, dự báo được tình hình tăng, giảm học sinh tại các địa bàn, vì thế mặc dù số học sinh tăng nhưng các địa phương đã cơ bản đáp ứng được các điều kiện về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên để thực hiện tổ chức dạy học số lượng học sinh/lớp theo quy định. Điều này phản ánh sự đầu tư mạnh mẽ của các địa phương vào cơ sở hạ tầng trường học, đội ngũ giáo viên và các chương trình hỗ trợ học sinh.
Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở tiếp tục được các địa phương quan tâm nhằm củng cố, duy trì đạt chuẩn phổ cập giáo dục và từng bước phấn đấu đạt chuẩn mức độ cao hơn để nâng cao chất lượng giáo dục; tạo điều kiện thuận lợi để huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi vào học tiểu học tại địa bàn, nhất là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và trẻ em khuyết tật được đi học và hoàn thành chương trình tiểu học.
Năm học 2024 - 2025, tỷ lệ huy động học sinh đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học đạt 99,7%; tỷ lệ huy động học sinh hoàn thành Chương trình giáo dục tiểu học vào trung học cơ sở đạt 98,23%. Ở các tỉnh miền núi, nơi điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, tiến bộ trong phổ cập giáo dục cũng rất đáng ghi nhận.
(1).jpg)
Toàn bộ các tỉnh vùng miền núi phía bắc, Tây Nguyên đều có 100% đơn vị cấp xã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ năm tuổi. Tỉ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt từ 98% trở lên; nhiều đơn vị huy động từ 99% đến 100% số trẻ 5 tuổi đến lớp, chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từng bước được nâng lên. Tỉ lệ trẻ em 5 tuổi được học 2 buổi/ngày đạt 97,7%; tỉ lệ trẻ em 5 tuổi được tổ chức ăn bán trú đạt 95,1%, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 10%; triển khai nhiều giải pháp đồng bộ từ công tác tuyên truyền, phối hợp giữa các đơn vị, các ngành để huy động mọi nguồn lực đảm bảo, tuyển dụng đội ngũ, bố trí nguồn lực tài chính; thực hiện các chính sách của trẻ em và đội ngũ theo quy định của Chính phủ như hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em mẫu giáo, hỗ trợ giáo viên dạy tăng cường tiếng Việt và lớp ghép; trợ cấp đối với trẻ em mầm non là con công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp.
Hỗ trợ kinh phí tổ chức nấu ăn cho trẻ em cho các cơ sở giáo dục mầm non ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng khó khăn… qua đó đã tạo mọi điều kiện để duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non trẻ năm tuổi, duy trì và nâng cao chất lượng chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi sẵn sàng vào học lớp 1. Những thành tựu này không chỉ cải thiện tỉ lệ nhập học mà còn góp phần xây dựng nền tảng giáo dục vững chắc cho thế hệ trẻ ở các khu vực khó khăn.
Trong 5 năm thực hiện Chương trình, công tác xóa mù chữ được chú trọng ở nhiều địa phương, tỷ lệ biết chữ tiếp tục được nâng lên. Các giải pháp tuyên truyền và tổ chức học tập đã thu hút đông đảo học viên tham gia. Tỉ lệ biết chữ trong độ tuổi 15 - 60 tiếp tục tăng hằng năm.
Toàn quốc duy trì 100% tỉnh/thành đạt chuẩn xoá mù chữ mức độ 1, trong đó 55/63 tỉnh (87,3%) đạt chuẩn xoá mù chữ mức độ 2.
Trong 5 năm thực hiện Chương trình, cả nước đã huy động được 261.130 người tham gia học xóa mù chữ, bình quân hằng năm là 52.226 người. Lực lượng giáo viên và cộng tác viên tham gia công tác xoá mù chữ cơ bản đáp ứng yêu cầu.
.jpg)
Đáng chú ý, 70,8% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 5 về giáo dục trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao (mục tiêu 60%); 95,6% số xã đạt chuẩn tiêu chí giáo dục - đào tạo (mục tiêu 90%), tỉ lệ trên phản ánh rõ xu hướng tiến bộ trong phát triển giáo dục nông thôn. Những con số này không chỉ khẳng định nỗ lực của các địa phương mà còn cho thấy hiệu quả của việc lồng ghép các chương trình, đề án trong lĩnh vực giáo dục, góp phần bảo đảm công bằng trong cơ hội học tập và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khu vực nông thôn.
Bên cạnh giáo dục phổ thông, nội dung đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực nông thôn tiếp tục được chú trọng, gắn chặt với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai rộng khắp, kết hợp giữa nguồn kinh phí của chương trình và các chương trình mục tiêu quốc gia khác.
Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục học lên trung học phổ thông hoặc các chương trình giáo dục tương đương đạt trên 85% ở hầu hết các tỉnh, nhờ vào các chính sách khuyến khích học tập như miễn giảm học phí, cung cấp học bổng và xây dựng các trường trung học phổ thông nội trú.
Ngoài ra, các chương trình giáo dục nghề nghiệp và đào tạo kỹ năng cũng được triển khai mạnh mẽ, tạo cơ hội cho học sinh không tiếp tục học trung học phổ thông vẫn có thể phát triển bản thân. Những kết quả đạt được trong phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và tiếp tục học tập cho thấy sự thành công của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cơ bản cho mọi người dân. Các chính sách quốc gia, cùng với sự nỗ lực của các địa phương, đã tạo ra một hệ thống giáo dục ngày càng toàn diện và công bằng hơn.
Công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục nghề nghiệp cũng được quan tâm, với hơn 4.000 lượt người được tập huấn, nâng cao năng lực giảng dạy và quản lí. Những hoạt động này đã góp phần thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở khu vực nông thôn, tạo thêm việc làm và sinh kế bền vững cho người dân. Qua đó, giáo dục nghề nghiệp không chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt về việc làm, mà còn góp phần hình thành tư duy tự chủ, sáng tạo, giúp người lao động nông thôn nâng cao năng suất, thu nhập và khả năng thích ứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.


