Giáo dục vùng khó đổi thay cùng nông thôn mới
Những năm qua, triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các địa phương đã tích cực phối hợp, tập trung thực hiện các tiêu chí: về cơ sở vật chất trường học và giáo dục – đào tạo. Đây được xem là một trong những đòn bẩy phát triển giáo dục vùng khó.
Trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giáo dục được cụ thể hóa ở hai tiêu chí, gồm: tiêu chí số 5 về trường học yêu cầu các xã phải có trường lớp kiên cố, từng bước đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, đội ngũ, hoạt động giáo dục. Cơ sở vật chất trường học phải đảm bảo an toàn, đủ phòng học, phòng chức năng, có khuôn viên xanh – sạch – đẹp. Tiêu chí số 14 về giáo dục và đào tạo, nhấn mạnh đến chất lượng phổ cập và xóa mù chữ.
Để thực hiện hai tiêu chí này, trong giai đoạn 2020-2025, ngành Giáo dục tỉnh Lạng Sơn đã tham mưu UBND tỉnh ban hành kế hoạch xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, gắn với kiểm định chất lượng hằng năm. Đồng thời hướng dẫn các cơ sở giáo dục, phối hợp với chính quyền địa phương và trung tâm học tập cộng đồng duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập, xóa mù chữ.

Cụ thể, triển khai tiêu chí số 5, Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn đã phối hợp với các ban, ngành của tỉnh rà soát, quy hoạch mạng lưới, ưu tiên đầu tư cho những trường cận đạt chuẩn, đồng thời gắn việc xây dựng trường chuẩn với công tác kiểm định chất lượng giáo dục. Thông qua đó, số lượng trường chuẩn tăng đều qua từng năm.
Nếu như năm 2020, tỉ lệ trường đạt chuẩn quốc gia mới đạt 34,8% thì đến cuối năm 2024 đã tăng lên 48,9%, tương ứng 315 trường. Tỉ lệ phòng học kiên cố đạt 92,8%, tăng hơn 15% so với năm 2020. Tính riêng trong 538 trường ở các xã, có 354 trường đạt chuẩn cơ sở vật chất và 302 trường đạt chuẩn quốc gia, góp phần giúp trên 95% số xã đạt tiêu chí số 5.
Cùng với tiêu chí số 5, tiêu chí số 14 về giáo dục – đào tạo cũng được triển khai bằng nhiều giải pháp đồng bộ, cụ thể. Ngành giáo dục thường xuyên chỉ đạo rà soát, củng cố kết quả phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi; hằng năm tổ chức đánh giá, công nhận và nâng mức độ phổ cập. Đặc biệt là quan tâm công tác xóa mù chữ tại các xã.
Năm 2020, tỉnh Lạng Sơn mới đạt phổ cập tiểu học mức độ 2 và trung học cơ sở mức độ 1, đến năm 2024 đã nâng lên phổ cập tiểu học mức độ 3 và trung học cơ sở mức độ 2. Đặc biệt, công tác xóa mù chữ từ mức độ 1 (năm 2020) đã nâng lên mức độ 2 vào năm 2024. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh có trên 95% xã đạt chuẩn tiêu chí giáo dục – đào tạo.
Để thực hiện hai tiêu chí trên, giai đoạn 2020–2025, ngành giáo dục đã được đầu tư nguồn lực rất lớn. Tính đến cuối năm 2024, toàn tỉnh có 353 công trình trường học được sửa chữa, xây mới với tổng kinh phí hơn 1.453 tỷ đồng. Bên cạnh ngân sách nhà nước, toàn ngành còn huy động được trên 500 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa.

Tại tỉnh Hà Nam (cũ), tính đến 12/2024, mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông cơ bản thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học theo quy hoạch, điều kiện giao thông bảo đảm cho học sinh đi học thuận lợi, an toàn. Toàn tỉnh có 116 trường tiểu học, 04 trường liên cấp. 100% trường tiểu học công lập đạt chuẩn quốc gia, trong đó có 92 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Các cơ sở giáo dục tiểu học được đặt tại vị trí thuận lợi, thu hút trẻ đến trường.
Cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học tại Hà Nam có số phòng học đạt tỉ lệ 1,2 phòng/lớp; phòng học theo tiêu chuẩn quy định, an toàn; có đủ bàn ghế đúng quy chuẩn; đủ ánh sáng, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè; có điều kiện tối thiểu dành cho học sinh khuyết tật hòa nhập; có thư viện, phòng y tế học đường, phòng thiết bị giáo dục, phòng truyền thống và hoạt động Đội; phòng làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng; văn phòng, phòng họp cho giáo viên và nhân viên.
Các cơ sở giáo dục cơ bản bảo đảm thiết bị dạy học tối thiểu quy định; thiết bị dạy học được sử dụng thường xuyên, dễ dàng, thuận tiện. Sân chơi và bãi tập bảo đảm đủ diện tích, được sử dụng thường xuyên, an toàn; môi trường xanh, sạch, đẹp; có nguồn nước sạch, hệ thống thoát nước; có công trình vệ sinh sử dụng thuận tiện, bảo đảm vệ sinh dành riêng cho giáo viên, học sinh, riêng cho nam, nữ.
Trên địa bản tỉnh, các cơ sở giáo dục tiểu học đều tích cực thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, đưa một số tiết học ra ngoài không gian lớp học. Đẩy mạnh việc xây dựng trường lớp Xanh - Sạch- Đẹp- An toàn, chú trọng đến việc xây dựng vườn trường trong đó có khu vườn thực nghiệm để phục vụ việc dạy học và các hoạt động giáo dục lao động, kĩ năng sống,… đổi mới không gian lớp học, giáo viên tự nguyện, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, cha mẹ học sinh đồng thuận.
Các cơ sở giáo dục thực hiện tốt các quy định về chính sách giáo dục đối với người khuyết tật. Thực hiện điều tra thu thập số liệu trẻ em khuyết tật trong độ tuổi tiểu học để huy động tối đa số trẻ khuyết tật học hòa nhập.
Tính đến 12/2024, trên địa bàn tỉnh Hà Nam, 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1. Số trẻ em 11 tuổi hoàn thành Chương trình tiểu học đạt tỉ lệ 98,28%.
Số trẻ khuyết tật từ 6-10 tuổi có khả năng học tập được tiếp cận giáo
dục đạt tỉ lệ 100%.
100% đơn vị cấp xã, huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. Tỉnh đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3.
Còn tại Quảng Ninh, mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh được bố trí đảm bảo điều kiện cho học sinh đi học thuận lợi, an toàn; phòng học, phòng chức năng đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức dạy học; tỉ lệ phòng học/lớp đạt từ 1,0 - 1,1.
Số phòng học được xây dựng theo tiêu chuẩn quy định, an toàn; có đủ bàn ghế phù hợp với học sinh; có bảng, bàn ghế của giáo viên; đủ ánh sáng, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè; có điều kiện tối thiểu dành cho học sinh khuyết tật học tập thuận lợi; có phòng làm việc của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, văn phòng phòng họp cho giáo viên và nhân viên, phòng y tế trường học, thư viện, phòng thiết bị.
(1).webp)
Có thiết bị dạy học tối thiểu để tổ chức các hoạt động dạy và học theo Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành; thiết bị dạy học được sử dụng thường xuyên, dễ dàng, thuận tiện.
Sân chơi và bãi tập với diện tích phù hợp, được sử dụng thường xuyên, an toàn; môi trường xanh, sạch, đẹp; có nguồn nước sạch, hệ thống thoát nước; có công trình vệ sinh sử dụng thuận tiện, bảo đảm vệ sinh dành riêng cho giáo viên, học sinh, riêng cho nam, nữ.
100% giáo viên của tỉnh này đã đạt chuẩn trình độ đào tạo. 100% giáo viên đạt yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học; tỉ lệ giáo viên/lớp đạt từ 1,4 - 1,5.
Toàn tỉnh Quảng Ninh hiện có 148/153 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỉ lệ 96,7%. Tỉnh Quảng Ninh được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 lần đầu năm 2020 và tiếp tục được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận duy trì chuẩn mức độ 3 vào năm 2024.
Trong giai đoạn 2021- 2025, toàn tỉnh Đồng Tháp, 100% số trẻ 6 tuổi huy động vào lớp. 97.96% học sinh học 2 buổi/ngày. Số học sinh còn lại học từ 7 buổi/tuần trở lên. Có 97,43% số trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học. 100% giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn. Trong đó tỉ lệ trên chuẩn đạt 96.19%.
Toàn tỉnh có 8.965 phòng học kiên cố và bán kiên cố, bình quân đạt 1,08 phòng học/lớp, cơ bản đáp ứng cho việc tổ chức dạy học 02 buổi/ngày. Tuy nhiên, phòng học còn tồn tại 772 phòng bán kiên cố và 165 phòng tạm. 100% các trường được trang bị thiết bị dạy học theo Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu.
Hiện, có 307/307 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; 23/23 huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3. Tỉnh Đồng Tháp đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3.
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, toàn bộ 100% đơn vị cấp xã tại các tỉnh vùng miền núi phía bắc và Tây Nguyên đều được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi. Tỉ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt từ 98% trở lên. Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từng bước được nâng lên. Tỉ lệ trẻ em 5 tuổi được học 2 buổi/ngày đạt 97,7%. Tỉ lệ trẻ em 5 tuổi được tổ chức ăn bán trú đạt 95,1%; tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 10%. Ngành Giáo dục đã đồng bộ nhiều giải pháp từ công tác tuyên truyền, phối hợp với các đơn vị, các ngành, huy động mọi nguồn lực đảm bảo, tuyển dụng đội ngũ, bố trí nguồn lực tài chính; thực hiện các chính sách của trẻ em và đội ngũ theo quy định của Chính phủ, tạo mọi điều kiện để duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, duy trì và nâng cao chất lượng chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi sẵn sàng vào học lớp 1. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này có ý nghĩa quan trọng, giúp tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện và nâng cao hiệu quả chính sách ở từng địa phương. Không chỉ bảo đảm duy trì, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, các giải pháp còn góp phần chuẩn bị vững chắc về thể chất, tâm lí, kĩ năng cho trẻ sẵn sàng vào lớp 1, qua đó tạo nền tảng bền vững cho chất lượng giáo dục phổ thông và sự phát triển lâu dài của hệ thống giáo dục. |


