Liên kết website Liên kết website

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tiếp tục đề xuất định hướng nội dung giáo dục trong Chương trình MTQG nông thôn mới

Hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển phẩm chất và năng lực người học là trọng tâm trong định hướng phát triển giáo dục giai đoạn tới. Mục tiêu nhằm tạo đột phá về nguồn nhân lực, góp phần xây dựng nông thôn mới hiện đại, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số. Trên tinh thần đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đề xuất định hướng triển khai các nội dung giáo dục trong Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (MTQGXDNTM) giai đoạn 2026-2030.

Mở rộng cơ hội học tập cho mọi người dân

Theo định hướng, giai đoạn 2026–2030 tập trung hiện đại hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với phát triển con người toàn diện. Mục tiêu đặt ra là 80% cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông đạt chuẩn cơ sở vật chất; hơn 65% trường mầm non, 70% trường tiểu học, 75% trường trung học cơ sở và 55% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 đến 5 tuổi tại 100% tỉnh, thành phố; 75% đạt chuẩn phổ cập tiểu học mức độ 3; 40% đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở mức độ 3 và 10% đạt chuẩn phổ cập trung học phổ thông mức độ 3. Tỉ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở cấp tiểu học đạt 99,5% và cấp trung học cơ sở đạt 97%.

Toàn bộ học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông sẽ được tiếp cận dịch vụ hướng nghiệp, tư vấn nghề nghiệp chuyên nghiệp; tỉ lệ thanh niên độ tuổi 15–25 tham gia học nghề đạt 20%. 100% xã và tỉnh được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2; hệ thống trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên được đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.

Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng hướng tới xây dựng “Cộng đồng học tập” tại 100% xã, trong đó ít nhất 50% đạt mức độ 2, góp phần hình thành xã hội học tập rộng khắp, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân nông thôn.

Hoàn thiện thể chế, cơ sở vật chất

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định nhiều nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trước hết là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ, gắn với định hướng phân luồng học sinh sau trung học cơ sở.

Triển khai thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi theo Nghị quyết số 218/2025/QH15 của Quốc hội và các văn bản của Chính phủ. Tham mưu cho Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ trẻ em, đội ngũ đáp ứng yêu cầu phổ cập

Các địa phương sẽ được hướng dẫn xây dựng quy hoạch mạng lưới trường lớp, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho bậc mầm non, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa và xã nghèo. Việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên được chú trọng, bảo đảm đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ và năng lực theo yêu cầu đổi mới giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo tham mưu đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất trường học, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục thường xuyên công lập tham gia đào tạo nghề cho các đối tượng của Chương trình theo hướng hiện đại, chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu học tập cơ bản và đạo tạo nghề tại chỗ. Ưu tiên hỗ trợ đầu tư cho cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục thường xuyên địa bàn các xã nghèo; bổ sung thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi cho cấp học mầm non đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh việc tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong dạy học, kiểm định chất lượng, quản lí giáo dục. Các nền tảng học trực tuyến (e-learning) sẽ được phát triển, kết hợp tập huấn phổ cập kĩ năng số cho giáo viên, cán bộ quản lí và học sinh. Cùng với đó, phần mềm phục vụ công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ sẽ được nâng cấp, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong toàn ngành.

Đổi mới nội dung hình thức, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh nhằm giá nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống, chính trị, tư tưởng, pháp luật, quốc phòng và an ninh trong các cơ sở giáo dục, đào tạo tại các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, ven biển và hải đảo.

Duy trì giáo dục bắt buộc, nâng cao phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, giáo dục hòa nhập. Duy trì và phát triển trường học đạt chuẩn quốc gia; phát triển lớp học thông minh, mô hình học tập cộng đồng. Trong đó, ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và người dân sinh sống tại các xã nghèo.

Bảo đảm tiếp cận giáo dục công bằng, toàn diện và học tập suốt đời cho người dân nông thôn. Tăng cường chính sách hỗ trợ giáo dục cho trẻ em gái, trẻ em yếu thế;

Duy trì, nâng cao phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, giáo dục hòa nhập. Phát triển lớp học thông minh, mô hình học tập cộng đồng. Tăng cường giáo dục bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai tại các cơ sở giáo dục.

Thúc đẩy chuyển đổi số và học tập suốt đời

Giai đoạn tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo định hướng đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cập nhật nghề, chuẩn hoá nội dung đào tạo, kiểm định chất lượng chương trình đào tạo; tăng cường giáo dục đạo đức nghề nghiệp, kiến thức về an toàn vệ sinh lao động, pháp luật, kinh doanh, khởi nghiệp, các kĩ năng mềm và đổi mới sáng tạo cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; gắn kết đào tạo nghề với học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở khu vực nông thôn.

Tiếp tục thực hiện nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư vấn nghề; tập trung đào tạo lại nguồn nhân lực nông thôn, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, gắn với bảo tồn, phát huy không gian văn hoá khu vực nông thôn, tận dụng lợi thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thích ứng với quá trình đô thị hoá, già hoá dân số và biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng nông thôn văn minh, hiện đại.

Ngành Giáo dục tiếp tục triển khai đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên đạt chuẩn về trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi; đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên công tác tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tổ chức hướng dẫn, tập huấn; điều tra chuẩn hóa dữ liệu; hỗ trợ kĩ thuật và kiểm tra công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Nâng cấp và hoàn thiện hệ thống phần mềm phổ cập giáo dục và xóa mù chữ đáp ứng yêu cầu phổ cập và yêu cầu về chuyển đổi số.

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong giai đoạn mới

Định hướng thực hiện giai đoạn 2026–2030 khẳng định vai trò then chốt của giáo dục trong phát triển nông thôn mới. Thông qua việc chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ, thúc đẩy chuyển đổi số và học tập suốt đời, ngành giáo dục hướng tới xây dựng môi trường học tập hiện đại, công bằng, nơi mọi người dân đều có cơ hội phát triển.

Vì vậy, trong giai đoạn mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hoàn thành mục tiêu dự kiến đặt ra. Trong đó, cần tiếp tục nâng cao nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển giáo dục trong tình hình mới, đồng thời phổ biến, tuyên truyền về Chương trình.

Tiếp tục nâng cao công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý nghĩa của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, việc tham gia vào Chương trình là cơ hội của giáo dục, đặc biệt là giáo dục địa phương. Xác định rõ thực hiện tốt các nhiệm vụ của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cũng chính là chuẩn bị tốt các điều kiện (đặc biệt là cơ sở vật chất, thiết bị dạy học) để triển khai thực hiện chương trình giáo dục.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, các chính sách giáo viên, học sinh. Tham mưu cho Chính phủ ban hành các chính sách cho trẻ em mầm non, hỗ trợ giáo viên tuyển dụng mới; hỗ trợ đội ngũ cán bộ làm công tác phổ cập; Chỉ đạo các địa phương ban hành chính sách địa phương để thực hiện phổ cập.

Trong đó, đề xuất ban hành các chính sách ưu đãi (trợ cấp, nhà ở) để thu hút giáo viên chất lượng cao đến vùng sâu, vùng xa. Ban hành chính sách hỗ trợ học bổng, học phí cho học sinh nghèo, đặc biệt ở vùng dân tộc thiểu số; duy trì các chính sách hỗ trợ học sinh ở các xã đạt chuẩn nông thôn mới để giảm tỉ lệ bỏ học.

Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, bảo đảm quỹ đất đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện học sinh.

Huy động tối đa nguồn lực của địa phương để tổ chức triển khai Chương trình, tăng cường nguồn lực từ ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương điều kiện khó khăn. Các tỉnh, thành phố ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước được phân bổ đầu tư cho các địa bàn khó khăn, đồng thời khuyến khích lồng ghép vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia khác.

Xây dựng mô hình trường học đạt chuẩn gắn với nông thôn mới theo hướng đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ số trong quản lý và giảng dạy và xây dựng trường học xanh - sạch - đẹp - an toàn, thân thiện với học sinh.

Phát triển mô hình giáo dục gắn với đặc thù địa phương theo hướng tổ chức các câu lạc bộ giáo dục STEM/ STEAM, hướng nghiệp, khởi nghiệp với nghề truyền thống và nhu cầu thị trường lao động tại địa phương; mô hình “trường học gắn với sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao”.

Tăng cường hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ gắn với yêu cầu nông thôn mới
như tổ chức các khóa tập huấn chuyên đề: chuyển đổi số trong giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia, phát triển mô hình giáo dục gắn với sản xuất – kinh doanh tại địa phương; ứng dụng hình thức đào tạo kết hợp (trực tiếp - trực tuyến), xây dựng hệ thống học liệu mở để giáo viên tự học; xây dựng chính sách khen thưởng, đãi ngộ cho những giáo viên, cán bộ quản lý có đóng góp tích cực trong việc hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.

Tăng cường công tác giám sát và đánh giá. Xây dựng hệ thống giám sát cộng đồng để đảm bảo tính bền vững của các tiêu chí. Thực hiện đánh giá định kỳ các tiêu chí liên quan đến giáo dục, tập trung vào chất lượng thực tế thay vì chỉ số hình thức, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện của các cơ sở giáo dục; từ đó có giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành mục tốt nhất tiêu của chương trình.


Trung tâm Truyền thông và Sự kiện
70 lượt xem
Đang online: 1
Lượt truy cập hôm nay: 33
Hôm qua: 959
Trong tháng: 15.967