Liên kết website Liên kết website

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đổi mới giáo dục dân tộc: thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra

Giáo dục và đào tạo (GDĐT) nước nhà nói chung, giáo dục dân tộc (GDDT) nói riêng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Điều đó đòi hỏi sự chủ động, sáng tạo của Đảng, của cả hệ thống chính trị cũng như của toàn xã hội và của ngành giáo dục trong việc tận dụng, khai thác các thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế nhằm phát triển GDDT cũng như thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013.

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Trong đó, đối với GDDT, giáo dục vùng khó khăn và các đối tượng diện chính sách, Nghị quyết xác định: “Ưu tiên đầu tư phát triển GD-ĐT ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượng diện chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa GD-ĐT”.

Thành tựu đáng khích lệ

Trong những năm qua, giáo dục vùng dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi đã có những tiến bộ đáng khích lệ. Trường lớp học được quan tâm đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, đảm bảo đủ điều kiện để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Quy mô, mạng lưới trường lớp ở vùng DTTS, miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Đã xóa được xã trắng về giáo dục mầm non; các thôn, bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới đã có lớp mầm non (chủ yếu là mẫu giáo). Lớp mẫu giáo 5 tuổi ở vùng dân tộc thiểu số được phát triển dưới nhiều hình thức: lớp độc lập và lớp gắn với trường tiểu học. Tất cả các xã đều có trường tiểu học hoàn chỉnh ở khu vực trung tâm xã; các điểm trường lẻ, lớp ghép được mở ở hầu hết các thôn, bản, buôn, sóc vùng sâu, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn, tạo cơ hội cho trẻ em các DTTS trong độ tuổi (6-14) được đi học. Chất lượng giáo dục tiểu học từng bước được cải thiện và phát triển theo hướng ổn định và bền vững. Nhiều trường tiểu học vùng DTTS đã đạt chuẩn Quốc gia. Mạng lưới trường, lớp trung học đã phát triển đến khắp các xã, huyện miền núi, vùng DTTS. Chất lượng giáo dục phổ thông ở miền núi, vùng DTTS đã có những chuyển biến quan trọng. Đến tháng 6 năm 2010 cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS.

Bên cạnh đó, hệ thống giáo dục chuyên biệt gồm: trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT), dự bị đại học (DBĐH) ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến năm học 2015-2016, trường PTDTNT được thành lập ở 50 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với 314 trường, quy mô 91.421 học sinh (HS). Tất cả các DTTS đều đã có con em theo học tại trường PTDTNT. Hàng năm, có trên 6.000 HS các trường PTDTNT tốt nghiệp THPT. Trong đó, có trên 50% HS thi đỗ thẳng vào đại học, cao đẳng. Trường PTDTBT được thành lập ở 28 tỉnh vùng DTTS, với quy mô 975 trường và 158.069 học sinh bán trú (HSBT). Nhờ có hệ thống trường PTDTBT mà tỷ lệ huy động HS DTTS trong độ tuổi ra lớp tăng, số HS DTTS bỏ học giảm. Môi trường học tập ở trường PTDTBT đã giúp HS DTTS tiếp cận nhanh hơn với tiếng Việt. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến rõ rệt, công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS có chất lượng và phát triển ổn định tại vùng DTTS. Toàn quốc hiện có 4 trường DBĐH, 1 trường PTDTNT trực thuộc Bộ có đào tạo hệ DBĐH dân tộc và 3 khoa DBĐH dân tộc thuộc các trường đại học với quy mô hơn 5.000 HS dự bị/năm. Các trường, khoa DBĐH đã và đang thực hiện tốt việc tạo nguồn đào tạo sinh viên DTTS ở các địa phương có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục đại học ở vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS. Nhờ có các chế độ ưu tiên, số lượng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT tiếp tục học lên đại học, cao đẳng tăng lên đáng kể, góp phần không nhỏ vào việc phát triển đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng DTTS.

Bên cạnh việc đầu tư phát triển quy mô hệ thống trường lớp các cấp, Nhà nước còn đẩy mạnh công tác dạy học tiếng DTTS. Hiện việc dạy tiếng DTTS cho HS được thực hiện ở 22 tỉnh/thành phố, tiếp tục duy trì dạy 8 thứ tiếng DTTS (Chăm, Khmer, Êđê, Bahnar, Jrai, Hmông và thí điểm dạy tiếng Thái, Hoa) tại 682 trường phổ thông. Việc đào tạo, bồi dư­ỡng tiếng DTTS đã giúp một bộ phận cán bộ, công chức công tác ở vùng DTTS biết sử dụng tiếng DTTS, am hiểu phong tục tập quán nên đã vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc thực hiện chủ trư­ơng, đ­ường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước có hiệu quả.

Những vấn đề đặt ra

Mặc dù GDĐT vùng DTTS, miền núi nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và phát triển bền vững vùng DTTS, miền núi, GDĐT còn nhiều yếu kém, bất cập cần phải khắc phục. Đó là mạng lưới trường học, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở vùng DTTS, miền núi đã được tăng cường đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng DTTS. Chất lượng giáo dục ở vùng DTTS, miền núi còn thấp và chưa đồng đều giữa các dân tộc: Còn có sự chênh lệch khá lớn về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ/HS giữa thành thị với vùng DTTS và vùng đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ huy động trẻ em DTTS đi học phổ thông còn thấp và không đồng đều giữa các dân tộc. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực sư phạm và năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục. Quy mô và mạng lưới các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp vùng DTTS có bước phát triển mạnh, song sự đáp ứng về chất lượng, ngành nghề đào tạo cho các địa phương vẫn đang là vấn đề khó khăn. Chế độ chính sách cho người dạy, người học ở miền núi, vùng DTTS, vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn vẫn còn một số hạn chế, bất cập về đối tượng, định mức, thời gian hưởng, phương thức hỗ trợ,…

Để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, GDDT cần tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản: Trước hết là đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng, cha mẹ học sinh về quyền học tập của trẻ em, về chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, GDDT nói riêng để mỗi gia đình, mỗi người dân nhận thức một cách đầy đủ về ý nghĩa quan trọng của GD-ĐT trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống, thực hiện công bằng trong giáo dục ở miền núi, vùng DTTS. Thực hiện tuyên truyền làm cho các cấp uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ở miền núi, vùng DTTS coi nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện GDDT là nhiệm vụ của chính mình, là điều kiện đảm bảo để thực hiện thành công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống mạng lưới trường, lớp vùng DTTS, miền núi phù hợp với điều kiện của miền núi, vùng DTTS, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em, người học vùng DTTS được tham gia học tập. Đồng thời đổi mới tổ chức và hoạt động giáo dục của các loại hình trường chuyên biệt này nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của HS các DTTS, nhu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực DTTS có chất lượng cho các địa phương. Bên cạnh đó, cần đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với đối tượng người học vùng DTTS, đặc biệt chú trọng chuẩn bị tốt tiếng Việt cho trẻ DTTS trước khi vào lớp 1.

Cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện hệ thống quản lý, chỉ đạo GDDT ở các tỉnh/thành phố có đông học sinh DTTS, bảo đảm mỗi sở GDĐT có bộ phận đầu mối quản lí, chỉ đạo về GDDT của địa phương. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vùng DTTS đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới GDĐT. Đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các cơ sở giáo dục vùng DTTS. Đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học giáo dục và khoa học quản lý giáo dục trong GDDT. Rà soát, điều chỉnh chính sách, chế độ phù hợp đối với người dạy và người học vùng DTTS, miền núi. 


moet.gov.vn

Tin cùng chuyên mục

Đang online: 11
Lượt truy cập hôm nay: 219
Hôm qua: 4.673
Trong tháng: 24.944