Liên kết website Liên kết website

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Định hướng phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian tới

Từ năm 1996 đến nay, phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển đã được thực hiện qua nhiều giai đoạn. Kết quả phân định này là căn cứ quan trọng để Đảng và Nhà nước ta ban hành rất nhiều chủ trương chính sách. Cũng theo thời gian, tính pháp lý ngày càng cao của các bộ tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển càng được khẳng định. Tuy nhiên, một số tiêu chí phân định vẫn còn mang tính chất định tính và cần được điều chỉnh trong thời gian tới.

1. Những kết quả đạt được của việc phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển; phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao

1.1. Kết quả thực hiện việc phân định tỉnh, huyện, xã là miền núi, vùng cao và một số chủ trương, chính sách đã và đang vận dụng kết quả phân định này

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, thực hiện một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) miền núi, Thủ tướng Chính phủ đã ủy quyền cho Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc công bố danh sách xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao. Từ năm 1993 đến nay, đã có 9 quyết định công nhận xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao, cụ thể như sau:

- Đơn vị hành chính cấp tỉnh có 12 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi và 23 tỉnh có miền núi.

- Đơn vị hành chính cấp huyện có 168 huyện vùng cao, 133 huyện miền núi.

- Đơn vị hành chính cấp xã có 2.529 xã vùng cao và 2.311 xã miền núi.

Việc phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước áp dụng các chính sách phát triển KT-XH đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội và trong các chính sách điều hành cụ thể của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Một số chính sách quan trọng đã và đang áp dụng kết quả phân định miền núi, vùng cao, đó là: Hiến pháp 2013; Luật tổ chức chính quyền địa phương; Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân; Luật Đầu tư công; Nghị Quyết 22/NQ-TƯ ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi; Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính;…

1.2. Kết quả thực hiện phân định xã, thôn, bản vùng dân tộc thiểu số theo trình độ phát triển và việc vận dụng kết quả phân định này trong ban hành chủ trương, chính sách đầu tư, phát triển KT-XH

Từ năm 1996, phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển được thực hiện qua nhiều giai đoạn, trong đó tiêu chí hộ nghèo là tiêu chí cơ bản. Trên cơ sở các bộ tiêu chí qua từng giai đoạn, các xã, thôn, bản vùng dân tộc thiểu số và miền núi được phân định theo trình độ phát triển (khu vực I, khu vực II, khu vực III) với kết quả như sau:

TT

 Giai đoạn

Tổng số xã

Xã KV I

Xã KV II

Xã KV III

Thôn ĐBKK

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

1

1996-2005

4.652

946

20,34

1.969

42,33

1.737

37,34

-

2

2006-2011

5.065

1.159

22,88

2.197

43,38

1.709

33,74

12.982

3

2012-2015

5.259

1.938

36,85

1.273

24,21

2.048

38,94

18.391

4

2016-2020

5.266

1.326

25,18

2.008

38,13

1.932

36,69

20.173

Hiện nay, kết quả phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển được làm căn cứ để Đảng và Nhà nước ban hành rất nhiều chủ trương chính sách, cụ thể: Luật bảo hiểm y tế 2014; Luật ưu đãi đầu tư; Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và Nghị định số 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện KT-XHđặc biệt khó khăn; Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở thôn, xã đặc biệt khó khăn; Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30/9/2009 về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn; Nghị định số 105/2014/NĐ-Cp ngày 15/11/2014 quy định chi tiết và hướng dẫn một số diều của Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014;… và còn được làm căn cứ cho rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

2. Đánh giá chung về phân định tỉnh, huyện, xã là miền núi, vùng cao và phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển

2.1.Việc phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao là một chính sách đúng đắn, nhằm làm căn cứ để xây dựng và tổ chức thực thi chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng địa bàn; tập trung nguồn lực đầu tư, hỗ trợ cho các tỉnh miền núi phát triển KT-XH. Quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện cơ bản có sự phối hợp chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, đảm bảo sự thống nhất và có sự tham gia của các cấp, ngành liên quan. Kết quả phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi,vùng cao là căn cứ quan trọng trong hoạch định chính sách cũng như tổ chức thực hiện chính sách nói chung trên địa bàn cả nước và địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã và đang được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương áp dụng.

Quá trình xây dựng dự thảo tiêu chí phân định miền núi, vùng cao đã có sự tính toán đến các đặc điểm địa hình, đất đai, dân tộc,… Tuy nhiên, tiêu chí để phân biệt xã, huyện tỉnh, chủ yếu chỉ mới dựavào độ cao so với mặt nước biển để phân định nên chưa phản ánh được chính xác sự khác biệt giữa các địa phương, các vùng, miền. Ví dụ: Cũng là tỉnh vùng cao, nhưng đối với các tỉnh miền núi phía Bắc là địa hình núi đá, độ dốc lớn, đất đai bị rửa trôi, xói mòn, rất khó khăn trong việc đầu tư hạ tầng KT-XH. Ngược lại, các tỉnh Tây Nguyên địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai có độ dốc không lớn, đất đỏ bazan màu mỡ, thuận lợi trong việc đầu tư hạ tầng KT-XH.

Việc quy định độ cao >600 m so với mực nước biển là vùng cao, độ cao ≥200mso với mực nước biển vùng núi nhưng không có đủ luận cứ về địa hình, địa vật, điều kiện đất đai, độ dốc, hạ tầng KT-XH để chứng minh cho việc quy định như vậy là khoa học, hợp lý. Tiêu chí phân định miền núi, vùng cao được duy trì quá dài, khi mà các yếu tố KT-XH của đất nước đã có nhiều thay đổi, dẫn đến hiện nay, một số khu vực không còn phù hợp khi áp dụng chủ trương, chính sách, nhưng vẫn chưa được nghiên cứu, tổng kết, phúc tra để đề xuất, điều chỉnh cho phù hợp.

 Tiêu chí phân định miền núi, vùng cao là một căn cứ hết sức quan trọng để Đảng, Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, tuy nhiên việc phân định và công bố lại quá đơn giản vì chỉ giao cho một cơ quan hành pháp của Chính phủ là Ủy ban Dân tộc.

2.2. Phân định vùng dân tộc thiểu số, miền núitheo trình độ phát triển là cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, các địa phương phân định xã, thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo từng khu vực nhằm giúp Nhà nước đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tạo điều kiện cho các xã đặc biệt khó khăn của cả nước nhanh chóng thoát khỏi tình trạng khó khăn, hòa cùng với các khu vực khác trong quá trình phát triển.

Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách phân định vùng dân tộc thiểu số, miền núi theo trình độ phát triển, địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi đã có nhiều chuyển biến quan trọng về KT-XH, cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống; an ninh chính trị và trật tự xã hội được bảo đảm; đoàn kết các dân tộc được củng cố, tăng cường; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo giảm nhanh. Có thể khẳng định, địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi trước đây có nhiều khó khăn đặc thù, nay đã có những đổi thay, chuyển biến rõ rệt. Nhiều nơi đặc biệt khó khăn nay đã bớt khó khăn, một số địa bàn có bước phát triển vượt bậc, ngang bằng với các xã khu vực I, phát triển thành thị tứ, thị trấn,…

Theo từng giai đoạn, tính pháp lý của các bộ tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển ngày càng cao (từ thông tư hướng dẫn đến quyết định của Bộ trường, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc và hiện nay là do Thủ tướng quyết định). Tuy nhiên, một số tiêu chí phân định còn mang tính chất định tính, rất khó xác định trong thực tế, ví dụ như tỷ lệ hộ thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh; tập quán sản xuất còn lạc hậu; số hộ thường xuyên được hưởng thụ và tiếp cận với hệ thống thông tin đại chúng;… Mỗi giai đoạn, bộ tiêu chí lại thay đổi, nên rất khó có thể xác định được số lượng xã đặc biệt khó khăn của giai đoạn này còn bao gồm bao nhiêu xã đặc biệt khó khăn của giai đoạn trước. Điều này làm cho thành quả đầu tư của Nhà nước, sự cố gắng vươn lên của nhân dân không được phân định, phản ánh rõ ràng.

3. Đề xuất, kiến nghị

3.1. Đối với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội

- Đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan của Quốc hội tăng cường công tác giám sát việc ban hành, thực hiện chính sách pháp luật, trong đó đặc biệt quan tâm giám sát thực hiện chính sách dân tộc, chính sách an sinh xã hội trên địa bàn miền núi, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số.

- Căn cứ các quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương, trên cơ sở Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 ngày 25/5/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính”, đề nghị Quốc hội chỉ đạo Chính phủ:

+ Tiến hành đánh giá toàn diện hiệu quả của việc phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển; phân định xã, huyện, tỉnh là miền núi, vùng cao cũng như các hình thức phân định khác;

+ Ban hành một văn bản quy phạm pháp luật để chỉ đạo, thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước thống nhất, hiệu lực, hiệu quả việc phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, theo tính chất, khó khăn đặc thù. Cần quy định rõ mục đích phân loại, tiêu chí phân loại đơn vị hành chính và tổ chức dân cư thôn, bản theo trình độ phát triển (hoặc theo mức độ khó khăn), trong đó chú ý các yếu tố, đặc điểm, khó khăn đặc thù của từng địa phương, vùng miền.

3.2. Đối với Chính phủ, các bộ, ngành

- Đề nghị Chính phủ chỉ đạo, yêu cầu các bộ, ngành rà soát, đánh giá toàn bộ các hình thức phân định và việc sử dụng các kết quả phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, phân loại đơn vị hành chính và tổ chức dân cư theo tính chất, khó khăn đặc thù.

- Nghiên cứu tích hợp đồng nhất các bộ tiêu chí miền núi, vùng cao; tiêu chí xác định đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn và tiêu chí phân định vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển thành một bộ tiêu chí chung, đảm bảo tính khoa học, theo hướng đơn giản, sát với thực tiễn để đễ áp dụng với địa bàn các thôn, bản, xã nhằm thuận lợi trong công tác rà soát, tổng hợp, thẩm định và phê duyệt.

- Rà soát hệ thống chính sách hiện có, tập trung lồng ghép các chính sách nhỏ, hỗ trợ trực tiếp vào các chương trình, chính sách lớn, đa mục tiêu; cắt giảm các chính sách không hiệu quả, không còn phù hợp để khắc phục tình trạng thiếu nguồn lực, dàn trải, thất thoát, lãng phí.

- Để đảm bảo tính thống nhất, hiệu quả của việc phân định, Chính phủ cần thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về phân định chung về trình độ phát triển và mức độ khó khăn của các đơn vị hành chính (nên giao Bộ Nội vụ). Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, kết quả phân định chung, các bộ, ngành thực hiện phân định (cấp xã, thôn, bản) để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình có mục tiêu.

- Việc phân định khu vực theo trình độ phát triển cần được thường xuyên đánh giá, tổng kết theo định kỳ với tình hình phát triển KT-XH nhằm bổ sung hoặc đưa ra những đối tượng phân định (3 năm) để kịp thời bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp.

3.3. Đối với các địa phương

- Các địa phương chủ động rà soát các kết quả phân định, phát hiện, kiến nghị các bất hợp lý về phân định và áp dung các cơ chế, chính sách liên quan đến các loại phân định; đề xuất giải pháp phù hợp với quy hoạc, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương, khu vực,

- Cần tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý nhà nước về thực hiện chính sách pháp luật nói chung, chính sách dân tộc, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình có mục tiêu trên địa bàn, nhất là địa bàn miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.


moet.gov.vn
Đang online: 7
Lượt truy cập hôm nay: 26
Hôm qua: 4.673
Trong tháng: 24.751