Liên kết website Liên kết website

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bắc Giang thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc

Bắc Giang là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc có đặc điểm địa hình khá phức tạp: vùng núi cao chiếm 72% diện tích, bao gồm các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế; vùng trung du trải rộng xen kẽ với đồng bằng chiếm 28% diện tích toàn tỉnh. Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện có có 6 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Kinh, chiếm 88,1%, người Nùng chiếm 4,5%; người Tày 2,6%; người Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%; người Hoa 1,2%; người Dao 0,5% dân số toàn tỉnh.

Thực hiện chính sách phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi, trong những năm qua tỉnh Bắc Giang đã thực hiện nhiều giải pháp nhăm nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc. Cụ thể:

1. Phát triển quy mô mạng lưới trường lớp chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Hệ thống mạng lưới trường, lớp vùng dân tộc thiểu số, miền núi được tỉnh quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh Bắc Giang hiện có 5 trường phổ thông dân tộc nội trú với 1659 học sinh và 4 trường phổ thông dân tộc bán trú với 1060 học sinh.Tỉ lệ đạt chuẩn quốc gia các trường phổ thông dân tộc nội trú đạt 100%, các trường phổ thông dân tộc bán trú đạt 75%.

Tổng số trẻ mầm non dân tộc thiểu số được huy động ra lớp là 128.110 em. Tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh là 44.813 em, trong đó có 22.161 học sinh tiểu học, 15.145 học sinh THCS và 7.507 học sinh THPT. Tổng số học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú là 1.659 em, trong đó có 903 học sinh THCS và 756 học sinh THPT. Tổng số học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú là1.060 em.


Trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang

 

2. Đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số

Thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Nội dung chương trình được điều chỉnh giảm tải, phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, ưu tiên xây dựng những tình huống dạy học gắn với đời sống kinh tế, văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn nhằm tăng cường sự trải nghiệm thực tiễn của học sinh. Tập trung cao cho việc dạy phương pháp học, rèn luyện phương pháp tự học; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học; sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung bài học; hướng dẫn học sinh cách tra cứu thông tin, tìm tài liệu tham khảo trên mạng internet, sách báo và các phương tiện truyền thông, đặc biệt là trang mạng giáo dục Trường học kết nối.

Việc kiểm tra đánh giá đã và đang chuyển từ đánh giá nội dung sang đánh giá năng lực. Thực hiện tốt việc xây dựng các đề kiểm tra theo ma trận với bốn cấp độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao. Các đề kiểm tra định kỳ và thường xuyên đều có câu hỏi mở gắn với những tình huống gần với đời sống các dân tộc thiểu số, khu vực miền núi nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh.

3. Nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú

Ngoài những giải pháp chung để nâng cao chất lượng giáo dục trung học, các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú đã thực hiện những giải pháp đặc thù như: Xây dựng nội quy và thực hiện tốt nếp sống văn minh khu nội trú; xây dựng phong cách học tập của học sinh dân tộc nội trú. Sinh hoạt nội trú được tổ chức hàng tuần theo chủ đề. Các câu lạc bộ “Nói tiếng dân tộc” được duy trì nhằm củng cố vốn ngôn ngữ dân tộc thiểu số và giới thiệu các phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca, truyện dân gian các dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú tổ chức cho học sinh nội trú truy cập, tìm tài liệu tham khảo học tập trên mạng Internet từ 16 giờ đến 18 giờ hàng ngày và tất cả các buổi chiều chủ nhật có sự hướng dẫn, giám sát của giáo viên; nhà trường còn lựa chọn những học sinh có lực học khá, giỏi theo từng môn học làm nòng cốt để tổ chức thành các nhóm tự học; bố trí cán bộ phụ trách thư viện trực vào ngày nghỉ để học sinh có điều kiện đọc sách, tìm tài liệu học tập....

Chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú ổn định và có nhiều chuyển biến rõ nét.

4. Tăng cường công tác quản lý giáo dục dân tộc

Sở GD&ĐT ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo phù hợp với thực tế địa phương để các đơn vị có cơ sở, căn cứ triển khai nhiệm vụ năm học; các đơn vị làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương, huy động tốt mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc.

Hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về giáo dục dân tộc tiếp tục được nâng cao, coi trọng quản lý chất lượng và đề cao trách nhiệm người đứng đầu, lấy hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá, xếp loại người đứng đầu và đơn vị. Đẩy mạnh phân cấp quản lý, giao quyền tự chủ về xây dựng chương trình, kế hoạch dạy học... Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị thực hiện nghiêm kỷ cương, nền nếp trong mọi hoạt động giáo dục. Nâng cao vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc quản lí, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh người dân tộc thiểu số. Chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức tốt hội nghị cán bộ, công chức, viên chức đầu năm học; phát huy tính dân chủ, sáng tạo, nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, tạo sự đồng thuận cao trong các cơ sở giáo dục.

5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học cũng như trong công tác quản lý giáo dục dân tộc.

Các nhà trường đã khai thác và sử dụng có hiệu quả hệ thống máy tính, mạng internet trong quản lý và dạy học; sử dụng có hiệu quả các phần mềm như: PMIS, EMIS, VMIS, kế toán, đánh giá ngoài... Đặc biệt, trong năm học,trường PTDTNT tỉnh Bắc Giang đã đầu tư bổ sung kinh phí sửa chữa, mua mới 10 máy vi tính, nối mạng 4 cáp quang Vietel, lắp đặt hệ thống wifi trong toàn trường phục vụ việc dạy và học; việc thực hiện giao việc và triển khai các văn bản đều được thực hiện qua thư điện tử; Website của nhà trường được duy trì và hoạt động có hiệu quả; 83% số cha mẹ học sinh tham gia sổ liên lạc điện tử; mỗi giáo viên thực hiện ít nhất 10% số giờ dạy có ứng dụng CNTT vào dạy học.

6. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí

Quan tâm, đầu tư phát triển số lượng, chất lượng đội ngũ nhà giáo người dân tộc thiểu số như: tạo điều kiện tốt nhất cho cán bộ quản lí, giáo viên công tác tại khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số và cán bộ giáo viên các trường PTDTNT, PTDTBT được bồi dưỡng theo chuẩn và nâng chuẩn; tỷ lệ đạt chuẩn và trên chuẩn của cán bộ quản lí, giáo viên ngày càng tăng, chỉ đạo các nhà trường tăng cường tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thông qua các hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn; tham gia các diễn đàn, các cuộc thi, các chương trình tập huấn trên trang mạng Trường học kết nối.

Các hình thức bồi dưỡng nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục dân tộc đã góp phần tích cực nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lí; nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên các nhà trường.

7. Thực hiện chế độ, chính sách đối với giáo dục dân tộc 

Các chế độ, chính sách với cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh, sinh viên ở khu vực miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được thực hiện đúng, đủ và kịp thời theo quy định hiện hành.

Công tác tuyển sinh vào trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được thực hiện nghiêm túc, đúng quy chế, đảm bảo quyền lợi học tập cho học sinh dân tộc thiểu số và học sinh vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thực hiện tốt mục tiêu đào tạo nguồn cán bộ cho địa phương.

Chế độ miễn học phí, cấp học bổng và các khoản chi khác cho học sinh dân tộc thiểu số, học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời. Các địa phương làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục; thu hút, huy động được nhiều dự án ưu tiên phát triển khu vực miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; góp phần tích cực nâng cao đời sống, năng lực, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên; nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc, hạn chế tối đa số lượng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học.

Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu số, miền núi của tỉnh. Nhiều năm liền ngành giáo dục tỉnh Bắc Giang được Bộ Giáo dục và Đào tạo ghi nhận và đánh giá cao những kết quả đạt được trong lĩnh vực Giáo dục dân tộc.


moet.gov.vn
Đang online: 8
Lượt truy cập hôm nay: 62
Hôm qua: 4.673
Trong tháng: 24.787