Bộ Giáo dục và Đào tạo với việc thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐCP về công tác dân tộc
1. Đặt vấn đề
Công tác dân tộc và việc thực hiện các chính sách dân tộc trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của từng vùng, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Sau khi Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể về nhiệm vụ giáo dục dân tộc, trọng tâm là các nhiệm vụ nhằm thực hiện tốt chính sách phát triển giáo dục và đào tạo. Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chính sách đã ban hành đối với giáo dục vùng DTTS; lồng ghép và ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ về giáo dục dân tộc trong các chương trình, dự án của Bộ như: ưu tiên nguồn kinh phí cho xây dựng cơ sở vật chất trường học, cung cấp trang thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục vùng DTTS nhằm phát triển giáo dục vùng DTTS theo chương trình chung của quốc gia; ưu tiên khảo sát, nghiên cứu, đề xuất, điều chỉnh, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện các chính sách giáo dục ở các cấp học, ngành học phù hợp với đặc thù dân tộc. Triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng tốt nhu cầu nguồn nhân lực có chuyên môn, kỹ thuật cho vùng đồng bào DTTS, miền núi.
2. Những kết quả về công tác dân tộc trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo tại Nghị định số 05/2011/NĐCP
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo vè công tác dân tộc tại Nghị định số 05/2011/NĐCP, Bộ GD&ĐT đã đạt được một số kết quả, cụ thể như sau:
(1)- Về việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật: Bộ GD&ĐT đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan ban hành, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án thực hiện chính sách phát triển giáo dục và đào tạo vùng DTTS. Cụ thể, đã ban hành 04 nghị định của Chính phủ, 08 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 08 thông tư liên tịch và 17 thông tư, quyết định và chương trình của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
(2)- Về phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp vùng DTTS: mạng lưới trường lớp ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học; các trung tâm giáo dục thường xuyên đã được thành lập ở các tỉnh và huyện; trung tâm học tập cộng đồng được thành lập ở hầu hết các xã, phường, tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận với các kiến thức văn hóa, khoa học, kỹ thuật.
(3)- Hệ thống trường chuyên biệt được củng cố và phát triển, từng bước hoàn thiện đáp ứng nhu cầu học tập cho học sinh vùng DTTS; chất lượng giáo dục có sự chuyển biến, tiến bộ cả về chất lượng đại trà và chất lượng học sinh giỏi; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT đạt tỷ lệ cao; học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng qua mỗi năm, góp phần tạo nguồn nhân lực cho vùng DTTS. Tính đến nay đã có 314 trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), trong đó có 03 trường trực thuộc Bộ GDĐT, 54 trường cấp tỉnh, 260 trường cấp huyện; có 916 trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) được thành lập ở 28 tỉnh; có 04 trường dự bị đại học (DBĐH), 01 trường phổ thông có đào tạo hệ DBĐH và một số khoa dự bị thuộc các trường đại học, với quy mô hơn 4.000 học sinh/năm, hệ thống các trường này được củng cố và phát triển.
(4)- Về việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ em, học sinh DTTS ở các cấp học: các địa phương vùng DTTS đã có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, cụ thể: (a)- Giáo dục mầm non (GDMN): các địa phương đã triển khai thực hiện có hiệu quả tài liệu hướng dẫn chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ vùng DTTS, bảo đảm chuẩn bị tiếng Việt cho 100% trẻ mẫu giáo 5 tuổi tại các cơ sở GDMN. Một số địa phương đã biên soạn tài liệu phù hợp với vùng miền, quan tâm sử dụng văn hoá địa phương trong việc thực hiện chương trình GDMN. (b)- Giáo dục tiểu học: các cơ sở giáo dục vùng DTTS đã thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá học sinh. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh DTTS; tổ chức dạy học 2 buổi/ngày phù hợp với điều kiện thực tế nhằm tăng thời lượng cho học sinh được học tập, vui chơi rèn luyện tại trường; tổ chức cho tất cả học sinh lớp 1 được học cả ngày; buổi 2 tập trung ôn tập kiến thức đã học ở buổi 1 và tổ chức nhiều hoạt động để tăng cường khả năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh DTTS, đồng thời là biện pháp duy trì số lượng, đảm bảo tỷ lệ chuyên cần. (c)- Giáo dục trung học: tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá phù hợp với đối tượng học sinh DTTS, miền núi; bảo đảm số tuần dạy học theo chương trình giảm tải, đủ số môn, số tiết/môn theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông; thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác phụ đạo học sinh yếu kém; tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi; chú trọng công tác giáo dục tư tưởng, tâm lý, đạo đức, giá trị sống, kĩ năng sống cho học sinh DTTS.
(5)- Về việc dạy tiếng, chữ DTTS: hiện nay cả nước vẫn duy trì dạy 7 thứ tiếng DTTS với 782 trường, 5.515 lớp, 124.246 học sinh học tiếng DTTS tại 20 tỉnh, bao gồm các tiếng: Chăm, Khmer, Êđê, Bahnar, Jrai, Mông và tiếng Hoa đang dạy thí điểm.
(6)- Về việc bồi dưỡng tiếng DTTS cho cán bộ, công chức theo Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg: toàn quốc có 28 tỉnh thực hiện bồi dưỡng tiếng DTTS với 19 thứ tiếng DTTS.
(7)- Về việc thực hiện công tác cử tuyển: được thực hiện theo Nghị định số 134/2006/NĐ-CP quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống quốc dân. Số lượng học sinh được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng trong những năm qua là 7.369 em, đạt tỷ lệ hơn 90% chỉ tiêu được giao.
(8)- Về việc thực hiện chính sách đối với người học: Trẻ em, học sinh, sinh viên DTTS ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn được hưởng những chính sách như: Chính sách học bổng; chính sách hỗ trợ học tập (hỗ trợ tiền, gạo và một số chính sách hỗ trợ khác); chính sách miễn, giảm học phí; chính sách trợ cấp xã hội; chính sách uu tiên cử tuyển, tuyển thẳng, tuyển sinh DBĐH và đại học… Các chính sách, chế độ đối với người học vùng DTTS được thực đầy đủ, kịp thời, đạt hiệu quả, tạo điều kiện và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực vùng DTTS.
(9)- Về việc thực hiện chính sách đối với người dạy: Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, hải đảo được hưởng chính sách quy định tại Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 của Chính phủ, Nghị định số 19/2013/NĐ-CP ngày 23/02/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2006/NĐ-CP, Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn.
Mặc dù đạt được những kết quả trên, quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục và đào tạo về công tác dân tộc tại Nghị định số 05/2011/NĐCP còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể:
(1)- Mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã được tăng cường đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở một số trường chuyên biệt vùng DTTS.
(2)- Công tác quy hoạch mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục vùng DTTS, miền núi trong những năm qua còn một số bất cập. Trường mầm non, tiểu học ở vùng DTTS có nhiều điểm trường nên khó khăn trong đầu tư và chuẩn hóa trường học.
(3)- Quy mô và mạng lưới các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp vùng DTTS có bước phát triển mạnh về số lượng, nhưng chất lượng đào tạo còn thấp, cơ cấu ngành nghề đào tạo cho các địa phương vẫn còn bất cập, vẫn còn một số lượng sinh viên ra trường chưa có việc làm. Sự đầu tư về cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo còn rất hạn chế, một số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng có quy mô và chất lượng đào tạo còn thấp.
(4)- Chất lượng giáo dục đào tạo ở vùng DTTS nhìn chung còn thấp so với yêu cầu: tỷ lệ học sinh có học lực khá, giỏi thấp; tỷ lệ huy động trẻ em DTTS đi học phổ thông còn thấp so với bình quân chung cả nước và không đồng đều giữa các dân tộc.
(5)- Chất lượng, cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục vùng DTTS còn bất cập. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, năng lực sư phạm, khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục của một bộ phận giáo viên còn hạn chế; một bộ phận giáo viên đời sống khó khăn, chưa yên tâm công tác. Định mức biên chế giáo viên/lớp và chính sách, chế độ đối với nhân viên làm việc trong các trường PTDTNT, PTDTBT, DBĐH chưa phù hợp với đặc thù công việc.
(6)- Chưa có chính sách đủ mạnh để nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục yên tâm công tác lâu dài, gắn bó với vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
(7)- Việc tham mưu ban hành các chính sách cho người dạy, người học ở vùng DTTS, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vẫn còn một số hạn chế, bất cập về đối tượng, định mức, thời gian hưởng, phương thức hỗ trợ… việc triển khai một số chính sách có lúc, có nơi chưa kịp thời, thiếu đồng bộ.
(8)- Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận đồng bào DTTS số chưa cao. Kinh tế - xã hội vùng DTTS chậm phát triển, cơ hội tìm kiếm việc làm khó khăn, thu nhập thấp, đời sống khó khăn ảnh hưởng đến động cơ, thái độ học tập của con em đồng bào các DTTS.
3. Một số nhiệm vụ trọng tâm những năm tới trong việc thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐCP
Một là, tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành tham mưu, đề xuất với Chính phủ ưu tiên hơn nữa đầu tư nguồn lực cho giáo dục vùng DTTS để phát triển quy mô, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Hai là, tiếp tục rà soát, nghiên cứu tổng thể về các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo vùng DTTS để hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng tích hợp nhằm khắc phục sự chồng chéo, không bao phủ hết đối tượng và đảm bảo tính khoa học của hệ thống. Ban hành chính sách theo hướng đơn giản về thủ tục; thuận lợi trong triển khai thực hiện; chi trả trực tiếp theo đối tượng thụ hưởng.
Ba là, chỉ đạo thực hiện lồng ghép các Đề án, Dự án... liên quan đến vùng DTTS để tăng cường hiệu quả các nguồn lực đầu tư; xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp, nhà bán trú cho học sinh DTTS.
Bốn là, tiếp tục đề nghị các cấp uỷ đảng ở vùng DTTS quan tâm hơn nữa đến lãnh đạo, chỉ đạo và vận động, tổ chức nhân dân tham gia sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số.
Năm là, chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương vùng DTTS quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông một cách hợp lý, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của học sinh.
Sáu là, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên người DTTS ở vùng DTTS đảm bảo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đủ kiến thức, kỹ năng về quản lý và chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
Bảy là, tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt ở các trường PTDTNT, PTDTBT, DBĐH; thu hẹp khoảng cách phát triển giáo dục giữa các vùng, miền, thực hiện công bằng giáo dục cho vùng DTTS, chú trọng tới học sinh dân tộc rất ít người.
Nguyễn Tiến Phúc
Chuyên viên Vụ Giáo dục dân tộc – Bộ Giáo dục và Đào tạo


